| Những Danh/Cụm Từ Thường Dùng Trong Forex Cách thức để đọc FX Quote FX quote luôn luôn đi đôi với nhau như GBP/USD hoặc USD/JPY. Lư do là v́ quư vị cần phải dùng tiền tệ của 1 nước nào mua hoặc bán lại 1 tiền tệ của nước khác. Ví dụ về Giá trị hối đối (rate of exchange) (chúng tôi sẽ dùng từ tiếng Anh rate of exchange để dể sử dụng hơn) GBP/USD = 1.7500 Có nghĩa là để mua 1 British pound th́ cần phải trả 1.7500 U.S dollar. Long/Short Định nghĩa 1 cách đơn giản, long = mua, short = bán. Bid/Ask Spread Bid là giá khi người mua sẵn sàng mua và người bán cũng đồng ư với giá này. Tuy nhiên để có thể mua được, th́ người mua phải trả với giá của Ask. Thường th́ ask luôn luôn cao hơn bid. Cũng như bán với giá thấp nhưng mua th́ với giá cao hơn. Tuy nhiên sự chênh lệch cũng không lớn lắm. Rollover Quư vị đừng lầm với rollover plan của cellphone. Mặt dù như đă nói trước, Forex mở 24 tiếng một ngày, nhưng đó là toàn thế giới. Mỗi nước có giờ mở và đống khác nhau, như đă được nhắc đến. Thường, broker nhưng làm việc lúc 5:00pm EST, gọi là "cut-of-time." Nếu quư vị muốn ngừng chơi, th́ chỉ cần đống trước 5:00pm. Nếu muốn tiếp tục chơi, th́ đó gọi là rollover. Khi Forex market mở ngày kế tiếp, tuỳ theo tỷ lệ tăng giảm, quư vị sẽ được lời hay lỗ. Pip Ví dụ: nếu EUR/USD tăng từ 1.2250 lên 1.2251 đó là một pip, số thập phân cuối cùng. Giá trị tiền tệ của mỗi nơi khác nhau, cho nên rất cần thiết để tính giá trị của pip. Ví dụ: USD/JPY rate = 119.80 (chúng ta để ư chỉ có 2 số thập phân) trong trường họp này 1 pip sẽ là 0.01. Cho nên: 119.80 0.01 chia cho rate of exchange = giá trị của pip ( 0.01/119.80 = 0.0000834) Quư vị có thể găy đầu và nghĩ, "huh, tôi phải tính những số này sau?" Quư vị đừng lo, không cần phải tính đâu, v́ thường forex brokers sẽ tự động tính tất cả những số này ra, nhưng vẫn tốt nếu chúng ta biết cách tính. Lot Spot Forex th́ thường trao đổi bằng lot. Một lot trung b́nh th́ khoảng $100,000. Tuy nhiên cũng có lot nhỏ hơn với giá trị $10,000. Như quư vị đă biết, tiền tệ được đo bằng pips, số thập phân nhỏ nhất trong giá trị của loại tiền nào đó. Cho nên, cần phải mua bán với số lượng lớn mới có thể thấy được sự thay đổi trong việc lời hoặc lỗ. Ví dụ chúng ta sẽ dùng lot = $100,000. Chúng ta sẽ xem số tiền này ảnh hưởng thế nào đến giá trị của pip. USD/JPY với exchange rate = 119.90 (.01/119.90) x $100,000 = $8.34 cho mỗi pip USD/CHF với exchange rate = 1.4555 (.0001/1.4555) x $100,000 = $6.87 cho mỗi pip Khi đồng dollar Mỹ không được quote trước, th́ công thức thay đổi một chút. EUR/USD exchange rate = 1.1930 (.0001/1.1930) x EUR 100,000 = EUR 8.38 x 1.1930 = $9.99734 làm tṛn thành $10 cho mỗi pip. Bây giờ, quư vị đă biết cách tính giá trị của pip, nhưng làm thế nào để tính được tiền lời hay lỗ? Chúng ta sẽ dùng ví dụ mua đồng dollar Mỹ và bán Swiss Francs Rate sẽ là 1.4525/1.4530, bởi v́ chúng ta mua đồng dollar Mỹ nên sẽ dùng 1.4530, tỷ lệ mà người chơi sẽ bán. Cho nên chúng ta sẽ mua 1 lot $100,000 với rate = 1.4530 Một vài giờ sau, giá trị gia tăng lên 1.4550 và chúng ta quyết định ngừng chơi (close our trade). Quote mới cho USD/CHF là 1.4550/1.4555. Bây giờ chúng ta bán ra cho nên phải dùng rate 1.4550 (nếu mua th́ dùng 1.4555). Sự khác biệt giữa rate lúc mua 1.4530 và rate hiện tại 1.4550 là .0020 hoặc 20 pips. Và dùng lại công thức chúng ta đă được biết qua lúc năy (.0001/1.4550) x $100,000 = $6.87 per pip x 20 pips = $137.40 Nên nhớ khi chúng ta bắt đầu mua hoặc bán th́ dùng tỷ lệ của bid/ask Khi mua th́ dùng giá trị của ask, khi bán th́ dùng giá trị của bid. Đến bây giờ th́ quư vị có thể nghĩ, ở đâu ra $100,000 để chơi đây!? Chắc quư vị c̣n nhớ từ leverage đă được nhắc đến trong phần mở đầu. Bây giờ quư vị sẽ hiểu hơn về từ leverage này. Khi chúng ta bắt đầu trade money th́ cần có 1 người broker. Hăy nghĩ người broker này là 1 nhà bank của chúng ta. Anh broker này sẽ bỏ ra $100,000 cho chúng ta chơi và chỉ đồi hỏi chúng ta bỏ vào $1000 để giử ḷng tin cậy của anh broker và chúng ta, tuy nhiên anh ta sẽ không lấy tiền của chúng ta. Đó là ư nghĩa của leverage. Tùy theo mỗi người broker, số lượng leverage sẽ khác nhau. Thường broker sẽ cho biết trước quư vị phải bỏ vào bao nhiêu để có thể có 1 lot. Ví dụ, cho mỗi $1000 quư vị bỏ vào, th́ có thể dùng 1 lot với giá trị $100,000. Cho nên, nếu bỏ vào $5000 th́ có thể trao đổi với lot có giá trị $500,000. Margin Call Trong trường họp bị lỗ, tiền bị giảm quá mức quy định (margin requirement). Broker của quư vị sẽ đống một số hoặc tất cả các khoản mua bán đễ quư vị không bị rớt xuống số âm. Ví dụ: Quư vị mở Forex tài khoản (Forex account) với $2,000. Và mở 1 lot để mua bán EUR/USD, và mức quy định (margin requirement) là $1,000. Bởi v́ quư vị bắt đầu với $2,000 cho nên mức quy định có thể dùng được (usable margin) là $2,000. Sau đó quư vị mở 1 lot $1,000, cho nên mức quy định có thể dùng được (usable margin) c̣n lại $1,000. Nếu quư vị mất cái usable margin th́ sẽ bị margin call. Nếu số tiền trong tài khoản bị dưới usable margin do bị lỗ khi mua bán, th́ quư vị có thể bỏ thêm tiền vào hoặc broker của quư vị sẽ đống tài khoản để ngăn chặn nguy hiểm cho quư vị, và cho chính bản thân broker. Kết quả quư vị sẽ không bao giờ thua hơn số mà quư vị bỏ vào. Rất là quan trọng đễ quư vị hiểu rơ margin của người broker mà quư vị sử dụng như thế nào. Order types Từ “order” được dùng để diển ta làm thế nào để có thể bắt đầu và ra một cuộc mua bán. Sau đây là một vài loại order. Market order Market order là quư vị có thể mua hoặc bán dựa trên giá cả thị trường hiện tại. Ví dụ rate hiện tại của EUR/USD là 1.2140. Nếu quư vị muốn mua với giá đó th́ chỉ cần nhấn chuột 1 cái là xong. Không cần phải làm thêm ǵ cả. Limit Order Limit order là khi mua hoặc bán ở một giá cả nhất định. Có hai yếu tố chính đó là giá cả và thời gian. Ví dụ EUR/USD rate = 1.2050. Quư vị muốn “go long” (mua) khi giá đạt tới 1.2070. Tuy nhiên quư vị không biết đến chừng nào th́ mới đạt tới rate 1.2070, trong khi bạn gái đang đợi bên ngoài J (hoặc trường họp khác). Quư vị có thể chọn mức mua giới hạn ở 1.2070 và phần mềm trading của quư vị sẽ làm điều đó cho quư vị, không cần phải ngồi đợi. Quư vị có thể chọn giá mà quư vị muốn mua/bán hoặc thời gian là bao lâu. Stop-loss order Stop loss order giới hạn quư vị đặt ra khi nào bán và ngừng chơi. Đây là dụng cụ rất cần thiết giúp quư vị không bị lỗ một cách trầm trọng. Ví dụ, quư vị “go long” (mua) EUR/USD với 1.2230. Để không bị thua nhiều, quư vị chọn ngừng lại nếu giá xuống 1.2200. Nếu quư hoàn toàn sai lầm trong tiên đoán của ḿnh, và EUR/USD bị rớt xuống 1.2200, th́ phần mềm trading sẽ tự động bán order của quư vị, và ngừng chơi. Quư vị chỉ bị mất 30 pips. GTC (Good ‘til canceled) GTC order sẽ tiếp tục hoạt động cho đến khi quư vị ngừng (cancel). Broker sẽ không ngừng cho quư vị, cho nến rất là quan trọng để quư vị nhớ những order của ḿnh khi sử dụng GTC. GFD (Good for the day) GFD order sẽ hoạt động cho đến hết 1 ngày. Bởi v́ Forex marking mở 24 tiếng cho nên thường đống lúc 5:00pm EST bởi v́ múi giờ của Mỹ là trể nhất. (EST = eastern standard time). OCO (order cancels other) Khi sử dụng OCO, đặc hai order với giá và thời gian trên dưới mức giá thị trường hiện tại. Khi một order được đưa ra th́ order kia sẽ bị canceled. Ví dụ: giá của EUR/USD là 1.2040. Quư vị muốn tiếp tục mua ở mức 1.2095 nếu quư vị dự đoán là rate sẽ lên cao đến mức đó, và điểm bán ra là 1.1985 nếu như giá bị rớt xuống. Nếu rate 1.2095 được đạt tới, th́ hệ thống software sẽ mua cho quư vị và cancel giá bán ra ở mức 1.1985. Luôn luôn kiểm tra với broker của quư vị xem có bị trả tiền phí nếu bị rollover hay không nếu quá 1 ngày. View more latest threads same category: |