may tinh bang|sửa nhà

  welcome Chào, Bạn. (Register)

Go Back   Vietnam Financial eXchange | Forex | Forex Vietnam | Forex Trading | Forex News| Stocks | Gold | Chứng Khoán | Vàng | Tỷ giá | Ngoại Hối >
PHÂN TÍCH
> PHÂN TÍCH CƠ BẢN

PHÂN TÍCH CƠ BẢN Fundamental Analysis

Thông Báo






Mở tài khoản giao dịch uy tín tại :

Forex.com <-- click

IFCmarkets <-- click

Reply
 
LinkBack Công cụ trên Đề tài
  #2 (permalink)  
Old 28-08-2009, 01:31
vfx's Avatar
vfx vfx vẫn chÆ°a cĂ³ mặt trong diá»…n Ä‘Ă n
Người nhà
 
Tham gia ngày: Sep 2008
Bài gửi: 790
Cảm ơn: 406
Được cảm ơn 59 lần trong 49 Bài viết
vfx is on a distinguished road
Các loại h́nh quỹ đầu tư

Quỹ đầu tư là một định chế tài chính trung gian phi ngân hàng thu hút tiền nhàn rỗi từ các nguồn khác nhau để đầu tư vào các cổ phiếu, trái phiếu, tiền tệ, hay các loại tài sản khác.

Tất cả các khoản đầu tư này đều được quản lư chuyên nghiệp, chặt chẽ bởi công ty quản lư quỹ, ngân hàng giám sát và cơ quan thẩm quyền khác.

Tại sao nhà đầu tư sử dụng quỹ đầu tư?

Nhà đầu tư cá nhân hay pháp nhân thường quyết định đầu tư thông qua quỹ bởi 05 yếu tố:
o Giảm thiểu rủi ro nhờ đa dạng hóa danh mục đầu tư
o Tiết kiệm chi phí nhưng vẫn đạt các yêu cầu về lợi nhuận
o Được quản lư chuyên nghiệp
o Giám sát chặt chẽ bởi các cơ quan thẩm quyền
o Tính năng động của quỹ đầu tư.

Mỗi nhà đầu tư tham gia đầu tư vào quỹ sẽ sở hữu một phần trong tổng danh mục đầu tư của quỹ. Việc nắm giữ này được thể hiện thông qua việc sở hữu các chứng chỉ quỹ đầu tư.

Các loại h́nh quỹ đầu tư

Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều loại h́nh quỹ đầu tư căn cứ theo các tiêu chí phân loại khác nhau.


1. Căn cứ vào nguồn vốn huy động:

+ Quỹ đầu tư tập thể (quỹ công chúng)

Là quỹ huy động vốn bằng cách phát hành rộng răi ra công chúng. Nhà đầu tư có thể là cá nhân hay pháp nhân nhưng đa phần là các nhà đầu tư riêng lẻ. Quỹ công chúng cung cấp cho các nhà đầu tư nhỏ phương tiện đầu tư đảm bảo đa dạng hóa đầu tư, giảm thiểu rủi ro và chi phí đầu tư thấp với hiệu quả cao do tính chuyên nghiệp của đầu tư mang lại.

+ Quỹ đầu tư cá nhân (Quỹ thành viên)

Quỹ này huy động vốn bằng phương thức phát hành riêng lẻ cho một nhóm nhỏ các nhà đầu tư, có thể được lựa chọn trước, là các cá nhân hay các định chế tài chính hoặc các tập đoàn kinh tế lớn, do vậy tính thanh khoản của quỹ này sẽ thấp hơn quỹ công chúng. Các nhà đầu tư vào các quỹ tư nhân thường với lượng vốn lớn, và đổi lại họ có thể tham gia vào trong việc kiểm soát đầu tư của quỹ.


2. Căn cứ vào cấu trúc vận động vốn:

+ Quỹ đóng

Đây là h́nh thức quỹ phát hành chứng chỉ quỹ một lần duy nhất khi tiến hành huy động vốn cho quỹ và quỹ không thực hiện việc mua lại cổ phiếu/chứng chỉ đầu tư khi nhà đầu tư có nhu cầu bán lại. Nhằm tạo tính thanh khoản cho loại quỹ này, sau khi kết thúc việc huy động vốn (hay đóng quỹ), các chứng chỉ quỹ sẽ được niêm yết trên thị trường chứng khoán. Các nhà đầu tư có thể mua hoặc bán để thu hồi vốn cổ phiếu hoặc chứng chỉ đầu tư của ḿnh thông qua thị trường thứ cấp. Tổng vốn huy động của quỹ cố định và không biến đổi trong suốt thời gian quỹ hoạt động. H́nh thức quỹ đóng này mới được áp dụng tại Việt Nam, đó là Quỹ đầu tư VF1 do công ty VFM huy động vốn và quản lư.


+ Quỹ mở

Khác với quỹ đóng, tổng vốn cũa quỹ mở biến động theo từng ngày giao dịch do tính chất đặc thù của nó là nhà đầu tư được quyền bán lại chứng chỉ quỹ đầu tư cho quỹ, và quỹ phải mua lại các chứng chỉ theo giá trị thuần vào thời điểm giao dịch. Đối với h́nh thức quỹ này, các giao dịch mua bán chứng chỉ quỹ được thực hiện trực tiếp với công ty quản lư quỹ và các chứng chỉ quỹ không được niêm yết trên thị trường chứng khoán. Do việc đ̣i hỏi tính thanh khoản cao, h́nh thức quỹ mở này mới chỉ tồn tại ở các nước có nền kinh tế và thị trường chứng khoán phát triển như Châu Âu, Mỹ, Canada… và chưa có mặt tại Việt Nam.


3. Căn cứ vào cơ cấu tổ chức và hoạt động của quỹ:

+ Quỹ đầu tư dạng công ty

Trong mô h́nh này, quỹ đầu tư là một pháp nhân, tức là một công ty được h́nh thành theo quy định của pháp luật từng nước. Cơ quan điều hành cao nhất của quỹ là hội đồng quản trị do các cổ đông (nhà đầu tư) bầu ra, có nhiệm vụ chính là quản lư toàn bộ hoạt động của quỹ, lựa chọn công ty quản lư quỹ và giám sát hoạt động đầu tư của công ty quản lư quỹ và có quyền thay đổi công ty quản lư quỹ. Trong mô h́nh này, công ty quản lư quỹ hoạt động như một nhà tư vấn đầu tư, chịu trách nhiệm tiến hành phân tích đầu tư, quản lư danh mục đầu tư và thực hiện các công việc quản trị kinh doanh khác. Mô h́nh này chưa xuất hiện ở Việt Nam bởi theo quy định của UBCKNN, quỹ đầu tư không có tư cách pháp nhân.

+ Quỹ đầu tư dạng hợp đồng

Đây là mô h́nh quỹ tín thác đầu tư. Khác với mô h́nh quỹ đầu tư dạng công ty, mô h́nh này quỹ đầu tư không phải là pháp nhân. Công ty quản lư quỹ đứng ra thành lập quỹ, tiến hành việc huy động vốn, thực hiện việc đầu tư theo những mục tiêu đă đề ra trong điều lệ quỹ. Bên cạnh đó, ngân hàng giám sát có vai tṛ bảo quản vốn và các tài sản của quỹ, quan hệ giữa công ty quản lư quỹ và ngân hàng giám sát được thể hiện bằng hợp đồng giám sát trong đó quy định quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên trong việc thực hiện và giám sát việc đầu tư để bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư. Nhà đầu tư là những người góp vốn vào quỹ (nhưng không phải là cổ đông như mô h́nh quỹ đầu tư dạng công ty) và ủy thác việc đầu tư cho công ty quản lư quỹ để bảo đảm khả năng sinh lợi cao nhất từ khoản vốn đóng góp của họ.
Reply With Quote
  #3 (permalink)  
Old 28-08-2009, 01:31
vfx's Avatar
vfx vfx vẫn chÆ°a cĂ³ mặt trong diá»…n Ä‘Ă n
Người nhà
 
Tham gia ngày: Sep 2008
Bài gửi: 790
Cảm ơn: 406
Được cảm ơn 59 lần trong 49 Bài viết
vfx is on a distinguished road
Chức năng hoạt động của Công ty quản lư quỹ

Theo khái niệm về công ty quản lư quỹ đầu tư (Fund Management) tại thị trường chứng khoán Mỹ, công ty quản lư quỹ là công ty chuyên trách thực hiện việc quản lư các quỹ đầu tư. Các quỹ đầu tư được tổ chức dưới dạng một công ty, phát hành cổ phần. Công ty đầu tư sử dụng nhà tư vấn đầu tư, hay người quản lư đầu tư đề quyết định loại chứng khoán nào sẽ đưa vào danh mục đầu tư của quỹ. Người quản lư quỹ đuợc toàn quyền quản lư danh mục đầu tư, mua bán chứng khóan phù hợp với các mục tiêu đầu tư của quỹ. Công ty quản lư quỹ được cấu trúc dưới hai dạng: quản lư quỹ đầu tư quỹ dạng đóng và quỹ dạng mở.
Ở Việt Nam, theo Nghị định 144/2003/NĐ-CP ban hành ngày 28/11/2003 về chứng khoán và thị trường chứng khoán, th́ công ty quản lư quỹ thực hiện việc quản lư quỹ đầu tư chứng khoán. Quỹ đầu tư chứng khoán có thể ở dạng quỹ công chúng hoặc quỹ thành viên, và là dạng đóng.


Chức năng hoạt động và các sản phẩm của công ty quản lư quỹ

Thực chất về hoạt động của công ty quản lư quỹ là thực hiện chức năng về quản lư vốn tài sản thông qua việc đầu tư theo danh mục đầu tư hiệu quả nhất làm gia tăng giá trị của quỹ đầu tư.


a.
Quản lư quỹ đầu tư (Asset management)

- Huy động và quản lư vốn và tài sản
- Tập trung đầu tư theo danh mục đầu tư
- Quản lư đầu tư chuyên nghiệp

Các quỹ đầu tư được quản lư bởi các chuyên gia có kỹ năng và giàu kinh nghiệm người mà được lựa chọn định kỳ căn cứ vào tổng lợi nhuận họ làm ra. Những chuyên gia không tạo ra lợi nhuận sẽ bị thay thế. Một trong những nhân tố quan trọng trong việc chọn lựa quỹ đầu tư tốt là quỹ đó phải được quản lư tốt nhất.
b. Tư vấn đầu tư và tư vấn tài chính

- Thực hiện việc tư vấn đầu tư và tư vấn về quản trị cho các khách hàng
- Hỗ trợ khách hàng tối ưu hóa các khoản đầu tư thông qua các công cụ tài chính
- Tối ưu hóa các nguồn vốn cho các nhà đầu tư


c.
Nghiên cứu

Thông qua việc phân tích đánh giá về thị trường, phân tích giá trị tài chính và giá trị đầu tư và hỗ trợ cho các hoạt động quản lư đầu tư và các tư vấn như đă nêu trên.



Cơ chế giám sát của quỹ, công ty quản lư quỹ và các cơ quan chức năng

a.
Cơ quan quản lư chủ quan của công ty quản lư quỹ là Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), Bộ Tài Chính và Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam giám sát toàn bộ các hoạt động của công ty quản lư quỹ, các quỹ đầu tư và các ngân hàng giám sát về mặt vĩ mô.

b.
Ngân hàng giám sát thực hiện việc bảo quản, lưu kư tài sản của quỹ đầu tư chứng khoán và giám sát công ty quản lư quỹ nhằm bảo vệ lợi ích của người đầu tư.
c. Công ty quản lư quỹ thực hiện việc quản lư quỹ việc đầu tư theo danh mục đầu tư được nêu trong cáo bạch của quỹ.

d.
Công ty kiểm toán thực hiện việc kiểm tra, đánh giá khách quan và chính xác t́nh h́nh hoạt động của quỹ đầu tư, bảo đảm sự minh bạch
Reply With Quote
  #4 (permalink)  
Old 28-08-2009, 01:32
vfx's Avatar
vfx vfx vẫn chÆ°a cĂ³ mặt trong diá»…n Ä‘Ă n
Người nhà
 
Tham gia ngày: Sep 2008
Bài gửi: 790
Cảm ơn: 406
Được cảm ơn 59 lần trong 49 Bài viết
vfx is on a distinguished road
Giá trị tài sản ṛng và các loại phí

Mỗi nhà đầu tư vào quỹ đều có mục tiêu đầu tư khác nhau, nhưng lư tưởng đối với tất cả các nhà đầu tư khi đầu tư vào quỹ là họ có thể nhận được lợi nhuận càng cao càng tốt bằng việc nhận cổ tức, hay giá trị tài sản đầu tư gia tăng hay cả hai. Giả sử với cùng điều kiện như nhau, th́ khoản đầu tư nào có lợi nhuận cao hơn sẽ hấp dẫn các nhà đầu tư hơn. Nhưng để đánh giá hay so sánh lợi nhuận của các khoản đầu tư th́ chúng ta sẽ làm như thế nào? Cách tốt nhất là chúng ta sẽ đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của các khoản đầu tư này. Kết quả hoạt động của một quỹ đầu tư dạng đóng và dạng mở sẽ được phản ánh qua tỷ lệ tăng giảm của giá trị tài sản ṛng của chứng chỉ quỹ đầu tư hay nói cách khác là sự thay đổi giá của chứng chỉ quỹ đầu tư sẽ phản ánh t́nh h́nh hoạt động kinh doanh của quỹ đó trong một khoảng thời gian (tuy nhiên đối với quỹ đóng, phần trăm tăng giảm của giá chứng chỉ quỹ được xem là sự tăng giảm giá trị tài sản ṛng của quỹ). Kết quả hoạt động kinh doanh của quỹ thường được phản ánh bằng tổng thu của quỹ, tổng thu này phản ánh việc tăng giảm giá trị tài sản ṛng của quỹ hay sự tăng giảm giá chứng chỉ quỹ cũng như việc phân chia lợi nhuận của quỹ (lợi nhuận chia cho nhà đầu tư). Nó có thể được thể hiện bằng các con số trong một bảng thống kê hoặc được biểu diễn trên đồ thị, và nhà đầu tư có thể tra cứu giá trị này bằng nhiều nguồn khác nhau.

Công thức để tính kết quả hoạt động kinh doanh được căn cứ vào tỷ lệ phần trăm tăng giảm của giá trị tài sản ṛng của quỹ qua một khoảng thời gian được thể hiện rất đơn giản như sau:

Trong đó:
- P: Kết quả hoạt động (tính theo %)
- B: Thị giá chứng chỉ quỹ tại phiên giao dịch cuối cùng vào thời điểm định giá
- A: Thị giá chứng chỉ quỹ vào ngày giao dịch đầu tiên

Giá trị tài sản ṛng của chứng chỉ quỹ vào ngày giao dịch cuối cùng được tính bằng thương số của tổng tài sản trừ đi tổng nợ và tổng số chứng chỉ quỹ

Các khoản phí

Phí và chi phí của một quỹ đầu tư cho các dịch vụ quản lư và hành chính bao gồm 02 loại chính: loại mà nhà đầu tư chỉ trả khi họ bắt đầu tham gia và khi rút tiền khỏi quỹ, và loại chi phí trực tiếp lên quỹ.

Có thể tóm tắt các khoản phí và chi phí như sau:

Loại phí và chi phíĐịnh nghĩa
A. Phí mà nhà đầu tư chỉ trả khi họ bắt đầu tham gia và khi rút tiền khỏi quỹ
Phí phát hànhPhí trả cho công ty quản lư quỹ khi đăng kư mua chứng chỉ quỹ
Phí hoàn tiềnPhí trả cho công ty quản lư quỹ khi nhà đầu tư rút lại tiền từ quỹ



B. Loại chi phí trực tiếp lên quỹ
Phí quản lư hàng nămPhí trả hàng năm cho công ty quản lư quỹ cho việc quản lư đầu tư và điều hành quỹ, dựa trên phần trăm giá trị tài sản ṛng trung b́nh của quỹ.
Phí thành côngPhí trả cho công ty quản lư quỹ dựa trên hoạt động của quỹ so với một mức lợi nhuận so sánh được một định mức đặt ra ban đầu, thông thường là tính theo tỷ lệ phần trăm trên phần vượt định mức.
Chi phí của Ban đại diệnPhí trả cho ban đại diện của quỹ.
Phí giám sát, lưu kưPhí (thường dựa trên mức phần trăm của NAV trung b́nh hàng năm) và các chi phí trả cho ngân hàng giám sát, lưu kư.
Phí dịch vụ cho các nhà đầu tưChi phí đăng kư, hành chính, thanh toán cổ tức, v.v…
Phí kiểm toánPhí trả cho công ty kiểm toán
Phí định giáPhí trả cho công ty định giá, đánh giá độc lập
Phí liên quan tới luật phápPhí phải trả cho các đơn vị luật pháp
Phí vayChi phí, lăi vay cho các khoản vay của quỹ
ThuếBất kỳ loại thuế nào mà quỹ phải trả
Đại hội nhà đầu tưChi phí hội họp cho các nhà đầu tư
Phí pháp lưPhí liên quan tới các hồ sơ thành lập, pháp lư
Phí môi giớiChi phí trong việc giao dịch tài sản của quỹ
Phí thành lậpThông thường cho các quỹ công ty, chi phí thành lập quỹ (bản cáo bạch, phí pháp lư, phí hành chính, vv…) và chi phí marketing (đối với h́nh thức quỹ đóng)


Phí quản lư

Quỹ đầu tư phải trả phí quản lư cho công ty quản lư quỹ hàng năm là từ 2% - 5% / giá trị tài sản thuần của quỹ, và được trả hàng tháng tương ứng bằng 1/12 của phí quản lư phải trả hàng năm (Khoản phí này được ghi rơ trong bản cáo bạch của từng quỹ)

Thưởng khuyến khích

Công ty quản lư quỹ đầu tư được hưởng một khoản thưởng khuyến khích nhằm mục đích khuyến khích việc quản lư quỹ có hiệu quả cao nhất.

Thưởng khuyến khích được ấn định trên khoản lợi nhuận vượt so với lợi nhuận căn bản (lợi nhuận căn bản được xác định là lăi suất trái phiếu chính phủ do chính phủ phát hành hàng năm cộng thêm một khoản % nào đó) và được thanh toán cho công ty quản lư quỹ trong khoảng thời gian 14 ngày sau ngày Ban Đại Diện của quỹ phê duyệt các bản báo cáo tài chính đă được kiểm toán của quỹ đầu tư trong năm, cách tính thưởng khuyến khích như sau:

Công thức tính khoản lợi nhuận vượt (L) so với lợi nhuận căn bản:

L = Q – [R+(R x S)]

Trong đó:
- Q: là giá trị tài sản ṛng của quỹ đầu tư vào ngày 31/12 hàng năm và do tổ chức lưu kư công bố hoặc một công ty tài chính độc lập hay công ty kiểm toán được Ban Đại Diện của quỹ đầu tư chấp nhận.

- R: là số vốn mà quỹ huy động được và đă kư hợp đồng với công ty quản lư quỹ trên cơ sở số vốn đó, (ví dụ: theo kế họach huy động vốn của bản cáo bạch này là 100 tỷ đồng và trong trường hợp 100 tỷ đồng sẽ được các nhà đầu tư mua hết, như vậy 100 tỷ đồng chính là R).

- S: là lăi suất trái phiếu chính phủ phi rủi ro được nhà nước Việt Nam phát hành hàng năm cộng với một khoản % xác định trước (ví dụ: trái phiếu chính phủ được phát hành năm 2002 là 6.5%/năm cộng với 2%, vậy S của năm 2002 là 8.5%).
Ví dụ: để tính số tiền thưởng khuyến khích (L) của công ty quản lư quỹ vào năm 2002, cách tính như sau:

Q = 110 tỷ đồng.
R = Số vốn được huy động là 100 tỷ đồng.
S của 2002= 6.5% + 2% = 8.5%.

Như vậy: L = 110 – [100 + (100 x 8.5%)].
L = 1.5 tỷ đồng.

=> Thưởng khuyến khích của công ty quản lư quỹ trong năm 2002 là: 20% x 1.5 tỷ = 300 triệu đồng.
Reply With Quote
  #5 (permalink)  
Old 28-08-2009, 01:34
vfx's Avatar
vfx vfx vẫn chÆ°a cĂ³ mặt trong diá»…n Ä‘Ă n
Người nhà
 
Tham gia ngày: Sep 2008
Bài gửi: 790
Cảm ơn: 406
Được cảm ơn 59 lần trong 49 Bài viết
vfx is on a distinguished road
Quỹ đầu tư và Công ty quản lư quỹ trong chiến lược chuyển đổi các tổng công ty nhà nước theo mô h́nh tập đoàn kinh tế

Để thực hiện việc đầu tư - kinh doanh chứng khoán trên thị trường tài chính, đ̣i hỏi công chúng và các nhà đầu tư không chỉ có kiến thức về chứng khoán và thị trường chứng khoán (TTCK) mà c̣n phải thường xuyên quan tâm, theo dơi, bám sát thực trạng, phân tích xu hướng phát triển của thị trường vốn. Để làm được điều này đ̣i hỏi các nhà đầu tư phải tiến hành khảo sát thực tiễn, thu thập thông tin, tài liệu để tiến hành phân tích từng chứng khoán cụ thể, lập và quản lư danh mục đầu tư… nhằm hạn chế rủi ro, nâng cao hiệu quả vốn đầu tư.
Với lĩnh vực nghiệp vụ, chuyên môn đặc biệt này, chỉ những chuyên gia và các nhà đầu tư chuyên nghiệp mới có thể thực hiện được. V́ vậy, mâu thuẫn giữa nhu cầu đầu tư với khả năng hạn chế về tri thức, thông tin và công nghệ đă được giải quyết bởi quá tŕnh hợp tác và phân công lao động xă hội trong hoạt động đầu tư - kinh doanh chứng khoán. Từ nhu cầu thực tiễn đă dẫn đến sự h́nh thành từng bước những mối quan hệ kinh tế tất yếu trên cơ sở của sự phân công và phối hợp những quan hệ về sở hữu vốn, quản trị và điều hành việc sử dụng vốn đầu tư một cách có tổ chức... Cùng với nó, những người chủ sở hữu vốn đầu tư thành lập những tổ chức tài chính dưới mô h́nh như: “quỹ đầu tư”, “công ty đầu tư”, “công ty quản lư quỹ đầu tư”...

Quỹ đầu tư (QĐT) và công ty quản lư quỹ đầu tư (CtyQLQ) ra đời xuất phát từ nhu cầu nội tại của thị trường tài chính và khi TTCK đă phát triển ở mức độ nhất định. Thực tiễn đă chứng minh rằng, mặc dù TTCK đă xuất hiện từ giữa thế kỷ XV nhưng các QĐT, CtyQLQ mới chỉ bắt đầu xuất hiện vào cuối thế kỷ XIX và phát triển mạnh mẽ từ giữa thế kỷ XX đến nay.

QĐT và CtyQLQ thường được h́nh thành một cách tuần tự, từ đơn giản đến phức tạp, quy mô từ nhỏ đến lớn và mô h́nh tổ chức - quản lư ngày càng hoàn thiện, phạm vi hoạt động từ quốc gia đến quốc tế. Lịch sử phát triển của các QĐT, CtyQLQ cho thấy, mô h́nh khởi điểm là các QĐT tập thể, chưa phải là pháp nhân, sau đó là thời kỳ phát triển của các QĐT dưới dạng công ty theo mô h́nh “đóng” rồi mới xuất hiện và phát triển dưới mô h́nh “mở”.

Từ thực tiễn, sự phát triển không ngừng của các QĐT và CtyQLQ trên thị trường tài chính là một trong những kết quả trực tiếp của sự phát triển của phân công lao động xă hội trong lĩnh vực tài chính.
Các QĐT và CtyQLQ đầu tư có những nhiệm vụ chủ yếu như sau:
- Huy động vốn đầu tư;
- Quản lư và thực hiện quá tŕnh đầu tư trên cơ sở các nguồn vốn đă huy động được;
- Lưu kư, bảo quản tài sản và tổ chức giám sát các hoạt động đầu tư;

Để thực hiện những nhiệm vụ này, QĐT và CtyQLQ đầu tư phải giải quyết tốt những mối quan hệ trên TTCK, thị trường tiền tệ. Trong đó, có những mối quan hệ với các ngân hàng, công ty tài chính… với tư cách là tổ chức bảo lănh phát hành, lưu kư, bảo quản tài sản, giám sát hoạt động của các CtyQLQ đầu tư hoặc thực hiện các hợp đồng ủy thác huy động vốn, quản lư danh mục đầu tư cho các QĐT.

Những nội dung cơ bản của hoạt động đầu tư:

Hoạt động đầu tư là nhiệm vụ quan trọng nhất, giữ vai tṛ quyết định đến sự thành công hay thất bại đối với mọi QĐT, CtyQLQ đầu tư. V́ vậy, để tiến hành đầu tư, các QĐT, CtyQLQ đầu tư phải tổ chức thực hiện nghiêm túc quy tŕnh hoạt động đầu tư

Để nghiên cứu đầu tư, các QĐT và CtyQLQ đầu tư sử dụng công cụ phân tích cơ bản, nhằm tập trung giải quyết những vấn đề vĩ mô như: phân tích sự tác động của lăi suất, tỷ giá, chính sách kinh tế - xă hội, các quan hệ kinh tế quốc tế… tác động tới hoạt động đầu tư - kinh doanh chứng khoán; phát hiện, dự đoán khuynh hướng phát triển và những biến động có thể sảy ra đối với toàn bộ nền kinh tế - đặc biệt là đối với thị trường tài chính và triển vọng phát triển của từng ngành, từng lĩnh vực cụ thể. Đồng thời, để tính toán khả năng sinh lời, triển vọng tăng trưởng, phân tích rủi ro đối với từng loại chứng khoán cụ thể; QĐT, CtyQLQ đầu tư sử dụng công cụ phân tích kỹ thuật để thực hiện điều này.

Mục tiêu đầu tư được xác định và thiết lập trên cơ sở những kết quả nghiên cứu thị trường và phân tích lợi nhuận, rủi ro theo quy tŕnh như sơ đồ 3. Đồng thời, phải xuất phát từ khả năng tài chính, khả năng tham gia của các nhà đầu tư, những đặc điểm và mục tiêu thành lập quỹ... Trên cơ sở đó, phải xác định mục tiêu đầu tư là thu nhập, lăi vốn hay kết hợp cả hai mục tiêu này để bảo tồn và phát triển quỹ một cách hiệu quả nhất.

Mục tiêu đầu tư được thực hiện thông qua các chiến lược đầu tư. Nghĩa là, chiến lược đầu tư phải được thành lập trên cơ sở mục tiêu đầu tư. Căn cứ vào mục tiêu đầu tư chủ động xây dựng chiến lược đầu tư để xác định cơ cấu tài sản (phân bố tài sản) và lựa chọn chứng khoán theo hướng năng động hoặc theo cơ cấu ổn định. Từ đó h́nh thành chiến lược đầu tư mang tính chủ động hay thụ động hoặc sử dụng chiến lược hỗn hợp cả hai thuộc tính này để h́nh thành danh mục đầu tư.

Chiến lược đầu tư mang tính chủ động: áp dụng chiến lược này, danh mục đầu tư thường tập trung vào các công cụ tài chính mang tính mạo hiểm, mức độ rủi ro cao như đối với việc đầu tư - kinh doanh cổ phiếu, các công cụ tài chính phái sinh và liên quan nhiều đến yếu tố tạo lập thị trường.

Với việc áp dụng chiến lược này, các nhà hoạch định kỳ vọng vào sự tăng trưởng về giá trị tương lai hoặc vào sự phát triển đột biến để lựa chọn ngành, lĩnh vực và các chứng khoán cụ thể. Điều này đ̣i hỏi phải sử dụng thuần thục cả hai loại công cụ phân tích nêu trên để có thể phát huy tính chủ động, không ngừng chuyển hóa cơ cấu tài sản và đổi mới chứng khoán.

Ngược lại, chiến lược đầu tư mang tính thụ động thường dàn trải tài sản và đa dạng hóa chứng khoán trong danh mục đầu tư; nhằm bù đắp giữa lợi nhuận và rủi ro để có được thu nhập ổn định, hạn chế rủi ro đến mức có thể chấp nhận được đối với từng chứng khoán cụ thể. Với việc áp dụng chiến lược này, các nhà hoạch định thường phân bổ tài sản chủ yếu vào các công cụ tài chính có thu nhập tương đối ổn định như trái phiếu Chính phủ, hoặc thiết lập danh mục đầu tư theo kết cấu chỉ số. Về bản chất, đây chỉ là sự sao chép lại một cách thụ động mức lợi nhuận của toàn thị trường và không kỳ vọng vào loại h́nh chứng khoán và lĩnh vực kinh tế cụ thể nào, c̣n kết quả hoạt động đầu tư th́ bị lệ thuộc vào diễn biến khách quan của thị trường. Trong những điều kiện đặc biệt, chiến lược này phát huy được hiệu quả đầu tư rất cao. Ví dụ, trong thời kỳ Trung tâm Giao dịch Chứng khoán (TTGDCK) mới triển khai hoạt động ở Việt Nam, mặc dù các nhà đầu tư đă thực hiện chiến lược đầu tư một cách thụ động theo chỉ số cổ phiếu với danh mục đầu tư rất đơn điệu và chỉ tập trung vào cổ phiếu. Nhưng, do giá cả cổ phiếu liên tục tăng lên trong khoảng thời gian khá dài nên việc áp dụng chiến lược đầu tư thụ động là hợp lư, đơn giản và hiệu quả nhất.

Các QĐT và CtyQLQ cũng có thể áp dụng chiến lược đầu tư mang tính hỗn hợp trên cơ sở phối hợp cả hai chiến lược nêu trên. Ví dụ, phát huy tính chủ động trong việc phân bố tài sản, thường xuyên thay đổi cơ cấu chứng khoán trong danh mục đầu tư nhưng trong việc lựa chọn chứng khoán th́ nắm giữ các danh mục đầu tư theo chỉ số đối với từng loại chứng khoán cụ thể. Tính chất hỗn hợp của chiến lược đầu tư cũng có thể được thực hiện theo hướng thụ động trọng tâm. Để thực hiện chiến lược này, trọng tâm của danh mục đầu tư là những chứng khoán được lựa chọn theo chỉ số. Bộ phận c̣n lại của danh mục đầu tư được thực hiện theo phương thức chủ động.

Để nâng cao hiệu quả vốn đầu tư; việc quản trị, điều hành QĐT, CtyQLQ đầu tư phải luôn luôn hướng vào các chỉ tiêu kinh tế cơ bản như: tổng thu nhập, tỷ lệ thu nhập, tổng chi phí, tỷ lệ chi phí và chất lượng hoạt động của bộ máy quản trị điều hành. Đồng thời, các QĐT, CtyQLQ đầu tư không chỉ khai thác và sử lư tốt các thông tin thị trường, mà c̣n phải cung cấp thông tin một cách chính xác, kịp thời, đầy đủ về t́nh h́nh tài chính và hoạt động QĐT, CtyQLQ đầu tư. Hội đồng quản trị phải cung cấp cho các NĐT các báo cáo về t́nh h́nh hoạt động đầu tư, t́nh h́nh tài chính. Nếu QĐT theo mô h́nh hợp đồng th́ phải cung cấp cho nhà đầu tư các tài liệu báo cáo định kỳ của CtyQLQ đầu tư, báo cáo của người thụ ủy và các báo cáo tài chính (bao gồm: báo cáo về tài sản và công nợ, thu nhập và chi phí, sự thay đổi giá trị tài sản ṛng…).

Danh mục đầu tư thể hiện một cách tổng thể mục tiêu, chiến lược đầu tư, việc phân bố tài sản và lựa chọn chứng khoán không chỉ đối với các loại h́nh chứng khoán, ngành, lĩnh vực mà QĐT, CtyQLQ đầu tư quan tâm; mà c̣n thể hiện cả mục tiêu, phạm vi hoạt động của chúng trên thị trường tài chính thế giới. Danh mục đầu tư của các QĐT, CtyQLQ ở các nước trên thế giới trong những năm qua đă không chỉ tập trung việc phân bố tài sản và lựa chọn những chứng khoán ở các thị trường vốn phát triển mà c̣n tranh thủ những cơ hội đầu tư vào những TTCK đang phục hồi ở những quốc gia thực hiện việc chuyển đổi mô h́nh kinh tế (đặc biệt là đối với TTCK của một số nước Đông Âu, Nga và Trung Quốc).

Tại Việt Nam, các nhà đầu tư nước ngoài (ĐTNN) cũng đă bắt đầu quan tâm, tiến hành đầu tư, thành lập CtyQLQ ở Việt Nam để tận dụng những cơ hội đầu tư xuất hiện trên TTCK và trong quá tŕnh cổ phần hóa (CPH) doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Năm 2003, lần đầu tiên ở Việt Nam, CtyQLQ đầu tư đă được thành lập, đó là Công ty Liên doanh QLQ đầu tư chứng khoán Việt Nam- VietFund Management (VFM). Đây là một liên doanh giữa Công ty Dragon Capital Management và Ngân hàng Thương mại (NHTM) Cổ phần Sài G̣n Thương Tín.

QĐT và CtyQLQ đầu tư đối với việc chuyển đổi các Tổng công ty (TCty) nhà nước sang mô h́nh tập đoàn kinh tế

Việc đổi mới các TCty nhà nước thành các tập đoàn kinh tế để thích ứng với những điều kiện của nền kinh tế thị trường trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt, trước ngưỡng cửa của việc Việt Nam ra nhập WTO và của quá tŕnh hội nhập, toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới đă trở thành một trong những nhiệm vụ trong tâm của cải cách khu vực kinh tế nhà nước ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Thực tiễn thế giới cho thấy, để tăng cường sự chủ động về vốn và phát triển lĩnh vực đầu tư tài chính, ngoài những “công ty con” là ngân hàng, công ty tài chính (CtyTC), các tập đoàn kinh tế phi ngân hàng c̣n có CtyQLQ đầu tư và hàng loạt các QĐT chứng khoán. CtyQLQ đầu tư (c̣n được gọi là CtyQLQ) và các QĐT đă và đang tạo tiền đề cho sự phát triển hùng mạnh của hầu hết các tập đoàn kinh tế (đặc biệt là đối với các công ty xuyên quốc gia - Trannationanl Corporations). V́ vậy, việc thành lập các QĐT và CtyQLQ đầu tư sẽ trở thành vấn đề tất yếu để thúc đẩy sự h́nh thành và phát triển các tập đoàn kinh tế ở Việt Nam - đặc biệt là đối với việc chuyển đổi và phát triển các TCty nhà nước theo mô h́nh tập đoàn kinh tế.

Cho đến nay tất cả các TCty nhà nước đều chưa thành lập QĐT và CtyQLQ. Mặc dù đă có một vài TCty nhà nước thành lập CtyTC, nhưng với mô h́nh và phương thức hoạt động như hiện nay, các CtyTC ở các TCty nhà nước không thể đẩy mạnh lĩnh vực hoạt động đầu tư - kinh doanh chứng khoán. Điều này đă và đang diễn ra đối với những CtyTC của các TCty nhà nước có quy mô lớn nhất. Ví dụ: Theo mô h́nh tổ chức hiện nay, TCty Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) có 117 đơn vị thành viên, bao gồm: các đơn vị hạch toán phụ thuộc, các đơn vị hạch toán độc lập, các đơn vị sự nghiệp và các công ty có vốn góp chi phối của VNPT. Trong đó, 70 đơn vị thành viên của VNPT hoạt động theo chế độ hạch toán phụ thuộc gồm 61 Bưu điện tỉnh, thành phố và 9 Công ty chuyên ngành. Những doanh nghiệp này chiếm trên 90% tổng vốn đầu tư phát triển hàng năm của VNPT và tạo ra gần 85% doanh thu của VNPT. Các đơn vị thành viên của VNPT có liên quan mật thiết với nhau về lợi ích kinh tế, tài chính, công nghệ, cung ứng, tiêu thụ, dịch vụ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu, tiếp thị trong lĩnh vực bưu chính - viễn thông và các lĩnh vực liên quan đến việc phát triển ngành Bưu chính - Viễn thông. Năm 2003 tổng doanh thu của VNPT đạt 24.997 tỷ đồng. Trong đó, doanh thu từ dịch vụ bưu chính - viễn thông chiếm 91,3%, nộp ngân sách nhà nước 4.145 tỷ đồng; nguồn vốn chủ sở hữu của VNPT đă lên tới 29.608 tỷ đồng. Để có được những thành tựu này, ngay từ khi thực hiện “Quy hoạch phát triển bưu chính viễn thông giai đoạn 1996-2000” VNPT đă vận dụng sáng tạo và triệt để chủ trương đa dạng hóa các nguồn vốn: thu hút vốn đầu tư nước ngoài thông qua h́nh thức hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC); liên doanh góp vốn với các đối tác nước ngoài, khai thác nguồn vốn hỗ trợ phát triển (ODA) và các nguồn vốn tín dụng từ các NHTM. Đồng thời, để khắc phục thói quen trông chờ vào các nguồn vốn từ TCty và để khai thác những nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của các đơn vị thành viên, khai thác các nguồn vốn trên thị trường tài chính, thực hiện việc đầu tư tài chính, năm 1998 VNPT đă thành lập CtyTC Bưu điện (PTF) để kinh doanh tài chính thông qua các hoạt động như: huy động và cho vay vốn; phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi và các loại giấy tờ có giá; kinh doanh dịch vụ ngân quỹ…

Mặc dù PTF đă tích cực hoạt động trong lĩnh vực tài chính nhưng cho đến nay hoạt động chủ yếu của PTF là thực hiện cho vay theo ủy thác, cho vay trực tiếp, cho vay đồng tài trợ c̣n đối với hoạt động đầu tư không đáng kể. Năm 2003, quy mô hoạt động đầu tư - kinh doanh chứng khoán và góp vốn liên doanh mua cổ phần mới chỉ đạt hơn 3 tỷ 107 triệu đồng. Thực trạng này cũng đang diễn ra tại các CtyTC hiện có ở các TCty nhà nước (CtyTC Dệt may, CtyTC Cao su, CtyTC Tàu thuỷ, CtyTC Dầu khí). Trong khi đó, tháng 8/2004 QĐT Chứng khoán Việt Nam (VF1) khi tổ chức khai trương đă huy động huy động đủ 300 tỷ đồng vốn điều lệ được phép phát hành. Như vậy có thể khẳng định rằng, một trong những nguyên nhân chủ yếu là ở chỗ: các CtyTC không phải là doanh nghiệp chuyên hoạt động kinh doanh các sản phẩm tài chính dưới h́nh thức chứng khoán. V́ vậy, để có thể bắt nhịp và hoà nhập vào thị trường tài chính, đồng thời, để thúc đẩy sự chuyển đổi từ mô h́nh TCty sang mô h́nh tập đoàn dưới dạng “công ty mẹ-công ty con” việc thành lập QĐT chứng khoán và CtyQLQ là phù hợp với xu hướng phát triển và những tiềm năng hiện có của các TCty nhà nước.

Kết luận

QĐT và CtyQLQ đầu tư là tất yếu khách quan và là sản phẩm trực tiếp của quá tŕnh phát triển của phân công lao động xă hội đối với thị trường tài chính. Hoạt động của QĐT, CtyQLQ đầu tư không chỉ trong phạm vi quốc gia, mà c̣n phát triển trên phạm vi quốc tế - một trong những nhân tố của quá tŕnh hội nhập và toàn cầu hóa thị trường tài chính hiện đại. V́ vậy, sự ra đời và phát triển của các QĐT, CtyQLQ ở Việt Nam là sản phẩm tất yếu của cải cách từ mô h́nh kế hoạch hóa tập trung sang mô h́nh nền kinh tế thị trường. Căn cứ vào phương thức hoạt động, các QĐT có thể được thành lập theo mô h́nh “đóng” hoặc “mở”, dưới dạng “hợp đồng” hay “công ty”. Tuy nhiên, do những đặc điểm và các nhân tố của việc thiết lập quỹ được h́nh thành từng bước, cho nên, ở giai đoạn đầu phải thành lập các QĐT dưới dạng “hợp đồng” và tổ chức - quản lư theo mô h́nh “đóng”. Đồng thời, việc thành lập CtyQLQ có thể bắt đầu từ mô h́nh công ty tư vấn đầu tư chứng khoán.

Kiến nghị

Để thúc đẩy quá tŕnh h́nh thành và phát triển của các TCty nhà nước theo mô h́nh tập đoàn kinh tế, có thể, mỗi TCty nhà nước sẽ thành lập thí điểm một vài QĐT và chuẩn bị điều kiện để tiến tới việc thành lập CtyQLQ; các TCty nhà nước thành các tập đoàn kinh tế, các TCty nhà nước cần đẩy nhanh tiến độ CPH theo hướng chuyển đổi sang mô h́nh tập đoàn kinh tế.
Để đảm bảo tính chuyên nghiệp trong việc quản trị các danh mục đầu tư và nâng cao hiệu quả phần vốn đầu tư của các TCty tại công ty cổ phần (CtyCP) - (các doanh nghiệp trong ngành), các TCty nhà nước có thể giao cho các QĐT hoặc CtyQLQ thực hiện việc quản trị kinh doanh và quản lư tập trung vốn cổ phần của TCty tại các CtyCP
Reply With Quote
Reply

Bookmarks


Số người đang có mặt : 1 (0 thành viên and 1 khách)
 
Công cụ trên Đề tài

Posting Rules
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is On
Smilies are On
[IMG] code is On
HTML code is On
Trackbacks are On
Pingbacks are On
Refbacks are On



Bây giờ là 18:28. Múi giờ GMT +8 .

Vé Máy Bay , Bãi Lữ Resort , Hải Tiến Resort , Jetstar , Bái Đính , qr code , Holiday view Cát Bà , Fortuneland Cần Thơ , game dua xe , Hẹn Ḥ , eureka linh truong

VFX co.,ltd

Search Engine Optimization by vBSEO 3.3.0