Nguyn nhn chnh để ph gi khng phải từ nhập siu.Tc động khng qu lớn, ngoại trừ lm qu trnh giảm li suất gặp thm kh khăn. Sau những tuyn bố trấn an thị trường từ NHNN về trạng thi thị trường ngoại hối vẫn đang tốt v sẽ giữ ổn định tỷ gi cho đến cuối năm, việc NHNN đột nhin ph gi 2% tiền đồng bắt đầu từ ngy 18/8 c thể khiến nhiều người ngạc nhin. Nhưng thực tế, động thi thay đổi tỷ gi ny khng qu bất ngờ nếu theo di kỹ những g đ diễn ra trn thị trường ngoại hối kể từ đầu thng 7.
V dường đ như c được bi học về việc dồn dập đưa ra những thay đổi chnh sch ở thời điểm đầu năm c thể khiến tăng tnh bất ổn vĩ m mạnh như thế no, NHNN đ lựa chọn thời điểm cng bố ph gi khi yếu tố lạm pht dường như đ được kiểm sot tốt v khng cn gy quan ngại đối với thị trường.
Điều m cần lm r ở đy l liệu động thi ny thực sự c phải l để (v c thể) giảm sức p nhập siu như thng bo của NHNN, thị trường c nn qu lo lắng hay khng, v từ nay đến cuối năm, tỷ gi c tiếp tục l rủi ro?
Hnh 1: Diễn biến USD trn thị trường từ 1/2-18/8/2010

Nguyn nhn chnh để ph gi khng phải từ nhập siu Nếu chỉ nhn vo thm hụt cn cn thương mại cc thng gần đy th cũng chưa c g đng lo ngại lắm đến tỷ gi. Nhập siu 7 thng đầu năm l 7,26 tỷ USD, trong khi cc nguồn ti trợ (FDI, FII, kiều hối, vay nợ ODA) c vẻ như vẫn dồi do để ti trợ được nhập siu, theo đ, cn cn thanh ton ước thặng dư 3,4 tỷ USD trong 6 thng đầu năm. Vậy tại sao vấn để tỷ gi lại trở nn căng thẳng trong suốt thời gian qua?
Bản chất của vấn đề l với một nền kinh tế c tỷ lệ đ la ha cao như ở Việt Nam, tỷ gi khng chỉ phụ thuộc vo cc dng ngoại tệ ra vo nền kinh tế, m cn phụ thuộc rất lớn vo bản thn sự dịch chuyển v cung cầu ngoại tệ ngay bn trong nền kinh tế. V trong trường hợp ny, n đ khiến NHNN phải thay đổi tỷ gi để giảm căng thẳng trn thị trường.
Sau đợt ph gi tiền đồng vo thng 2, thị trường ngoại hối c vẻ như kh yn ả, tỷ gi lin ngn hng được giữ nguyn, chnh lệch tỷ gi thị trường tự do v tỷ gi NHTM thu hẹp, trạng thi ngoại tệ của cc NH lun ở mức thặng dư. Nhưng dưới sự bnh lặng đ, l cơn sng m ỉ manh nha từ đầu qu 3, xuất pht từ tăng trưởng dư nợ ngoại tệ tăng đột biến kể từ đầu năm, cc doanh nghiệp chấp nhận rủi ro về tỷ gi, v khng thể chịu nổi li suất tiền đồng qu cao. Trong 7 thng đầu năm, tăng trưởng tn dụng ngoại tệ ln tới 34,4%, so với 8.4% dư nợ tiền đồng.
Nhưng bản thn doanh nghiệp cũng tự đề phng bằng cch vay với kỳ hạn ngắn (3-6 thng), theo đ, từ thng 7, nhu cầu trả nợ vay USD khi đến thời điểm đo hạn tăng cao, gy sức p lớn đến cầu ngoại tệ. NHNN bắt đầu lo lắng, v từ giữa thng 6 đ phải kiểm sot chặt tn dụng ngoại tệ.
Nhưng NHNN lo lắng một, doanh nghiệp lo lắng mười. Cc doanh nghiệp chưa hoặc khng c nguồn thu ngoại tệ đn đo thu gom USD đề phng khan hiếm ngoại tệ, cc doanh nghiệp c nguồn thu ngoại tệ th khng muốn bn ngoại tệ cho NH do e ngại khng thể mua lại nếu c nhu cầu vo cuối năm. Mất cn đối cung cầu USD, nguyn nhn từ cch ứng xử của cc thnh phần kinh tế đối với ngoại tệ, được dung dưỡng bởi tnh trạng đ la ha cao của nền kinh tế v cch quản l cn chưa hiệu quả của cơ quan quản l đ khiến thị trường ngoại hối trở nn rất căng thẳng.
V đương nhin, giải quyết bằng điều chỉnh tỷ gi l lựa chọn duy nhất ở thời điểm hiện tại để khơi thng hơn cc luồng ngoại tệ trong nước, trnh ảnh hưởng bất lợi đến ổn định vĩ m của nền kinh tế
. Kh kiềm chế được nhập siu
Với mức độ v quy m ph gi như lần ny của NHNN, hầu như sẽ t tc động đến vấn đề nhập siu của nền kinh tế. Nhập siu ở Việt Nam vẫn l một yếu tố mang tnh cơ cấu của nền kinh tế, khi phần lớn cc hng ha nhập khẩu đều l my mc thiết bị v nguyn nhin vật liệu phục vụ cho qu trnh sản xuất của cc doanh nghiệp trong nước.
Nghin cứu về điều kiện Marshall-Lerner tại Việt Nam cho thấy khng c mối lin hệ r rng no giữa sự giảm gi tiền đồng với việc giảm khối lượng nhập khẩu từ nước ngoi. Nguyn nhn l do hệ số co gin nhập khẩu của Việt Nam rất thấp, v tc động của tỷ gi ln gi nhập khẩu hng ha c một độ trễ nhất định (từ 3-9 thng). V thế, tiền đồng bị ph gi ở mức độ 2% hầu như khng ảnh hưởng đến khối lượng nhập khẩu, trong khi kim ngạch nhập khẩu cn c thể gia tăng do gi hng ha nhập khẩu đắt hơn.
Trong khi đ, cần phải ph gi ở mức độ cao hơn nữa mới c thể lm cho hng ha Việt Nam c tnh cạnh tranh trn thị trường quốc tế, v theo đ tăng mạnh được kim ngạch xuất khẩu. Sau một số năm lạm pht tăng thường xuyn, cao hơn nhiều so với tốc độ mất gi của tiền đồng, hiện nay tỷ gi danh nghĩa đang rời xa tỷ gi thực, khiến đồng Vịt Nam thực tế đang được định gi kh cao khoảng 12%, ảnh hưởng tiu cực đến cạnh tranh thương mại quốc tế của hng ha Việt Nam trn thị trường quốc tế.
Tc động khng qu lớn, ngoại trừ lm qu trnh giảm li suất gặp thm kh khăn Tc động của đợt ph gi tiền đồng lần ny sẽ khng qu lớn, ngoai trừ c thể khiến việc giảm mặt bằng li suất trở nn kh khăn hơn. Tiền đồng chnh thức mất gi sẽ gy ra những biến động tm l cho người dn. Nếu như trước đy, tỷ gi ổn định, chnh lệch li suất tiết kiệm tiền VND v USD ln đến 6-7%, người dn c xu hướng gửi tiết kiệm tiền đồng thay v tiền USD.
Trong 7 thng đầu năm, huy động tiền VND ln đến 19.4% trong khi huy động USD giảm 2.4%. Nhưng với đợt mất gi tiền đồng 2% ny, chnh lệch li suất khng cn qu hấp dẫn, người dn c thể thay đổi hnh vi, nắm giữ USD nhiều hơn, v theo đ, tăng trưởng huy động tiền đồng sẽ bị ảnh hưởng, li suất v thế cũng kh giảm hơn. Kỳ vọng lạm pht tăng cũng l nguyn nhn khiến cho mặt bằng li suất vốn đ kh giảm xuống, nay lại cng kh hơn.
Lạm pht cũng sẽ bị ảnh hưởng, thng qua knh nhập khẩu cc đầu vo của nền kinh tế, từ đ gia tăng chi ph sản xuất của doanh nghiệp, cũng như gia tăng gi cc hng ha tiu dng nhập khẩu. Tuy nhin, động thi tăng tỷ gi lần ny cũng chỉ l hợp thức ha việc tăng chi ph đầu vo của doanh nghiệp từ hơn một thng nay. Cc DN t khi mua được USD với gi cc NHTM nim yết, m thường phải trả thm ph, hoặc phải mua gi cao ở TT tự do. V thế, yếu tố tăng tỷ gi c thể đ được phản nh qua gi cả v lạm pht thng 8, v do đ, ở những thng kế tiếp, tc động sẽ khng cn qu lớn.
Cc khoản vay nợ nước ngoi cũng sẽ gia tăng. Tuy nhin, tnh đến cuối năm 2009, nợ nước ngoi của Việt Nam chiếm 39% GDP, trong đ, vay nợ bằng đồng USD chỉ chiếm 16.61%, cn lại l đồng Yn (chiếm 41.96%) v cc đồng tiền khc. V thế tỷ gi tăng 2% khng c tc động nhiều đến khoản nợ vay nước ngoi. Chnh cơ cấu đồng tiền vay kh đa dạng đ khiến nợ quốc gia Việt Nam giảm thiểu được kh nhiều rủi ro về tỷ gi.
Bn cạnh những tc động tiu cực nhưng khng qu lớn nu trn, việc giảm gi nhẹ VND thực ra lại l bước đi phản nh đng hơn gi trị thực của tiền đồng, lm cho thị trường ngoại tệ được thng suốt hơn, chnh lệch tỷ gi tự do v tỷ gi NHTM c thể được rt ngắn trở lại, v t gy tm l hoang mang cho người dn. Tăng tỷ gi cn khiến cho dư địa chnh sch tiền tệ rảnh rang hơn, hỗ trợ thm cho NHNN tăng cường tc động đến thị trường để hỗ trợ giảm li suất. Đồng Việt Nam giảm gi cũng kch thch cc nh đầu tư nước ngoi tiếp tục v tăng cường đầu tư giải ngn, đng gp thm vo cn cn thanh ton, ti trợ bổ sung cho thm hụt thương mại.
Sức p tỷ gi vẫn cn tiếp tục cho đến cuối năm Sức p đối với tỷ gi c lẽ l bi ton chưa c lời giải trọn vẹn. Việc ph gi tiền đồng 2% ở thời điểm ny chỉ c thể lm nhẹ đi tạm thời căng thẳng trn thị trường ngoại hối, cn rủi ro tỷ gi vẫn tồn tại v c thể tăng cao hơn nữa vo cuối năm.
Hnh 2 - Tỷ gi thực tế, tỷ gi danh nghĩa v nhập siu (1992-2009)
Bản chất của vấn đề l tiền đồng vẫn bị định gi cao, v v thế lun lun c sức p giảm gi. Từ năm 2004, mặc d tỷ gi danh nghĩa lun c xu hướng tăng, nhưng mức độ mất gi qu thấp so với tỷ lệ lạm pht cao, tỷ gi thực tế (REER) VND lại c xu hướng giảm, tiền đồng thực tế ln gi qu cao. Tnh đến cuối năm 2009, VND đ ln gi thực t́ 12% so với đồng tiền của cc đối tc thương mại chnh, nếu so snh với năm gốc 2000.
Từ đầu năm 2010 cho đến nay, tiền đồng đ chnh thức giảm gi 5.3%, trong khi lạm pht vẫn ở mức cao tương đối so với thế giới, đồng VND tiếp tục bị định gi cao khiến cạnh tranh thương mại của Việt Nam bị suy giảm, nhập siu v thế đ tăng mạnh, đặc biệt l 3 năm trở lại đy, v theo đ, vẫn gy sức p giảm gi tiền đồng.
Bn cạnh vấn đề nhập siu vẫn chưa thể giải quyết triệt để, p lực đến gi trị VND vẫn cn tồn tại, do đợt thay đổi tỷ gi lần ny vẫn khng lm thay đổi được bản chất cung cầu cc dng ngoại tệ trong nội tại nền kinh tế đ hiện diện từ qu 3, như l hệ quả của việc tăng trưởng tn dụng ngoại tệ qu nng ở thời điểm 2 qu đầu năm. V chắc chắn, vấn đề tỷ gi từ nay cho đến cuối năm sẽ trở thnh trung tm ch của thị trường, thay cho lạm pht của những thng đầu năm.
TS. T Trung Thnh
Giảng vin Đại học Kinh tế quốc dn H Nội. Kinh tế trưởng, Cng ty chứng khon Thi Bnh Dương (PSC)